CÁC HOẠT ĐỘNG KỸ THUẬT CỦA VIỆT NAM TRONG KHUÔN KHỔ HIỆP ƯỚC CTBT
16:04 02/05/2019: Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT) quy định “tất cả các quốc gia thành viên cam kết không thử nổ vũ khí hạt nhân trong mọi môi trường trên lãnh thổ của mình và cũng như không tham gia hay khuyến khích bất cứ vụ nổ hạt nhân nào ở bất cứ đâu trên thế giới”. Để khẳng định việc tuân thủ quy định trên, Tổ chức Hiệp ước Cấm thử Hạt nhân Toàn diện (CTBTO xây dựng Cơ chế kiểm chứng Hiệp ước, bao gồm: Mạng quan trắc quốc tế (IMS), Trung tâm dữ liệu quốc gia (IDC), Cơ chế tư vấn và làm sáng tỏ, thanh sát tại chỗ (OSI)….
NHU CẦU XÂY DỰNG NĂNG LỰC KỸ THUẬT QUỐC GIA ĐỐI VỚI HIỆP ƯỚC CTBT
So với các Công ước, Hiệp ước quốc tế liên quan trong  lĩnh vực năng lượng nguyên tử, Hiệp ước CTBT mang nhiều tính chất kỹ thuật bởi nó có nhiệm vụ xây dựng, vận hành, duy trì, bảo dưỡng một hệ thống quan trắc quốc tế với 4 kỹ thuật hiện đại và phân tích, lưu giữ, cung cấp dữ liệu cho các quốc gia thành viên.
Hệ thống quan trắc quốc tế gồm 337 trạm quan trắc của CTBTO hoạt động liên tục 24/24 để thu thập dữ liệu nhằm tìm kiếm, phát hiện những bằng chứng khoa học và minh bạch liên quan đến vụ nổ hạt nhân tiềm ẩn và được cung cấp cho các quốc gia thành viên cho mục đích kiểm chứng. Tuy nhiên, theo Hiệp ước, quyền khẳng định và đưa ra bằng chứng về một vụ nổ hạt nhân lại đặt lên vai các quốc gia thành viên dựa trên thông tin thu thập được của mạng quan trắc quốc tế, dựa trên các thông tin kỹ thuật thích hợp thu thập được bằng các biện pháp kỹ thuật kiểm chứng quốc gia phù hợp với các nguyên tắc được công nhận chung của luật pháp quốc tế, hoặc trên cơ sở kết hợp cả hai.
Điều IV của Hiệp ước về “Kiểm chứng” nêu rõ: Mỗi Quốc gia Thành viên cam kết (thông qua Cơ quan Quốc gia của mình được thành lập theo Điều III, đoạn 4) hợp tác với Tổ chức và với các Quốc gia Thành viên khác nhằm tạo điều kiện cho việc kiểm chứng Hiệp ước này, bao gồm:
- Tạo những cơ sở thiết bị cần thiết để tham gia vào các biện pháp kiểm chứng và thiết lập ra hệ thống trao đổi thông tin cần thiết;
- Cung cấp dữ liệu thu được từ các trạm quốc gia là một bộ phận của Hệ thống Quan trắc Quốc tế;
- Tham gia, khi thích hợp, vào một quá trình tham khảo ý kiến và làm sáng tỏ;
- Cho phép tiến hành việc thanh sát tại chỗ; và
- Tham gia, khi thích hợp, vào các biện pháp xây dựng lòng tin.
Như vậy liên quan đến vấn đề kiểm chứng Hiệp ước, Việt Nam cần phải xây dựng năng lực quốc gia về các công nghệ được sử dụng trong Hệ thống quan trắc quốc tế của tổ chức CTBTO bởi mọi yêu cầu về một cuộc Thanh sát tại chỗ cũng như cơ sở để thực hiện Quá trình tham khảo ý kiến và làm sáng tỏ đều dựa trên thông tin khách quan, minh bạch thu thập được của Hệ thống Quan trắc Quốc tế, dựa trên các thông tin kỹ thuật thích hợp thu thập được bằng các biện pháp kiểm chứng kỹ thuật quốc gia phù hợp với các nguyên tắc được công nhận chung của luật pháp quốc tế, hoặc trên cơ sở kết hợp cả hai.
Hơn nữa, liên quan đến cuộc thanh sát tại chỗ, nhiều chủng loại thiết bị liên quan đến các kỹ thuật khác nhau sử dụng trong quá trình thanh sát tại chỗ cần phải được nghiên cứu và tìm hiểu nhằm đáp ứng “trách nhiệm” cho phép tiến hành việc thanh sát tại chỗ, đồng thời phải đảm bảo an ninh, bí mật quốc gia trong trường hợp xảy ra cuộc thanh sát tại chỗ trên lãnh thổ nước ta khi Hiệp ước có hiệu lực.
CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN CTBT CỦA VIỆT NAM
Khảo sát năng lực kỹ thuật quốc gia liên quan đến Hiệp ước
Ngay trong quá trình Việt Nam thực hiện nghiên cứu, đánh giá các tác động có thể của Hiệp ước đối với Viêt Nam cũng như nghiên cứu và đánh giá quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích của Việt Nam khi tham gia Hiệp ước để trình Chính  phủ và Nhà nước phê chuẩn Hiệp ước, Tổ công tác liên bộ của Hiệp ước Cấm thử Hạt nhân toàn điện do Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KHCN) chủ trì đã tiến hành nghiên cứu đánh giá năng lực của Việt Nam về các kỹ thuật được tổ chức CTBTO sử dụng trong mạng quan trắc toàn  cầu.
Năng lực kỹ thuật của một số đơn vị khoa học kỹ thuật liên quan đã được khảo sát. Đối với năng lực kỹ thuật hạt nhân phóng xạ, chúng ta có Cục An toàn Bức xạ và hạt nhân, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, là các cơ quan có cán bộ chuyên môn và thiết bị phù hợp để thực hiện phân tích số liệu hạt nhân phóng xạ của CTBTO.
Về năng lực kỹ thuật địa chấn, chúng ta có Viện Vật lý địa cầu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là đơn vị có cán bộ chuyên môn phù hợp cho xử lý số liệu địa chấn. Đây là các đơn vị có chuyên môn thích hợp và đang sở hữu và vận hành các mạng quan trắc phóng xạ và địa chấn quốc gia phù hợp với các công nghệ sử dụng trong mạng quan trắc quốc tế của CTBTO.
Thực hiện các hoạt động xây dựng và củng cố năng lực kỹ thuật quốc gia
Xác định rõ tầm quan trọng của các kỹ thuật được sử dụng trong Hệ thống IMS của tổ chức CTBTO, Bộ KHCN đã tạo điều kiện cho các đơn vị khoa học kỹ thuật bước đầu nghiên cứu và nâng cao năng lực kỹ thuật liên quan đến cơ chế kiểm chứng của Hiệp ước.
Cụ thể là các hoạt động liên quan đến thu nhận số liệu của IMS của tổ chức CTBTO, phân tích nồng độ hạt nhân phóng xạ trong mẫu không khí, ứng dụng kết quả phân tích này vào phần mềm vận chuyển khí quyển để giúp xác định khu vực chứa nguồn phát tán phóng xạ nghi ngờ. Xử lý số liệu từ các trạm địa chấn của CTBTO để xác định vị trí của các sự kiện địa chấn. Đó là một số kỹ năng cơ bản để tìm các bằng chứng của một vụ nổ hạt nhân được CTBTO sử dụng.
Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia thực hành các bài tập chung do CTBTO tổ chức để nâng cao năng lực kỹ thuật liên quan cũng như đánh giá khả năng kỹ thuật của các quốc gia thành viên. Thông qua việc tham gia này, có thể khẳng định rằng Việt Nam có đội ngũ cán bộ có trình độ về kỹ thuật hạt nhân phóng xạ và địa chấn thỏa mãn được trách nhiệm quốc gia về kiểm chứng Hiệp ước. Tuy nhiên, với một công việc khá mới mẻ và đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và kiến thức liên quan đến đặc trưng của vụ nổ hạt nhân, cán bộ của chúng ta còn phải cố gắng rất nhiều và cần được đào tạo và thực hành, nghiên cứu nhiều hơn nữa một cách tập trung và có bài bản.
Tìm hiểu các kỹ thuật liên quan đến cuộc Thanh sát tại chỗ do CTBTO thực hiện khi Hiệp ước có hiệu lực
Một trong những công việc cần thực hiện là việc chuẩn bị và xây dựng năng lực cho việc tiếp nhận cuộc Thanh sát tại chỗ, một trong các thành tố của cơ chế kiểm chứng của CTBTO. Một khi có bằng chứng nghi ngờ về vụ nổ hạt nhân trong lãnh thổ quốc gia, nước thành viên bị nghi ngờ thực hiện vụ nổ hạt nhân sẽ phải chịu cuộc Thanh sát tại chỗ do tổ chức CTBTO thực hiện.
Đây là quá trình phức tạp cả về ngoại giao và kỹ thuật, đòi hỏi Việt Nam có nhân sự có đủ năng lực để đảm bảo hợp tác tốt trong khi cuộc thanh sát diễn ra, đồng thời đảm bảo khả năng kiểm soát và đánh giá được các loại thiết bị kỹ thuật được sử dụng trong quá trình thanh sát tránh bị lợi dụng cho mục đích khác cũng như lộ bí mật quốc gia.
Một số hoạt động nghiên cứu ban đầu đã được tiến hành như thu thập tài liệu liên quan đến quá trình thanh sát tại chỗ, tìm hiểu thiết bị có thể được sử dụng  trong mục đích thanh sát tại chỗ. Tuy nhiên để nghiên cứu nghiêm túc vấn đề này cần có sự tham gia và phối hợp của các Bộ, ngành khác có thể liên quan đến cuộc Thanh sát tại chỗ.
Khai thác dữ liệu quan trắc của CTBTO cho mục đích nghiên cứu khoa học và ứng dụng dân sự
Số liệu quan trắc từ IMS của CTBTO là rất lớn và được IDC cung cấp cho các quốc gia thành viên. Ngoài sử dụng cho mục đích kiểm chứng của Hiệp ước, số liệu này có thể được khai thác cho ứng dụng khoa học và dân sự. CTBTO đã nêu một số ứng dụng cụ thể được áp dụng cho mục tiêu dân sự và khoa học trong các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế và trong các ấn phẩm của mình. Số liệu quan trắc của CTBTO đã rất hữu ích cho Việt Nam trong quá trình ứng phó quốc gia đối với tai nạn hạt nhân tại Fukushima, Nhật Bản, năm 2011 và trong tương lai sẽ được ứng dụng cho việc cảnh báo sóng thần gây ra do động đất.
Một trong các ứng dụng rất thiết thực và được áp dụng hiệu quả là sử dụng số liệu địa chấn từ các trạm quan trắc của CTBTO cho cảnh báo sóng thần do các vụ động đất trong lòng đại dương gây ra, do vậy nhiều quốc gia đã tham gia vào mạng quan trắc cảnh báo sóng thần của tổ chức CTBTO. Hiện tại Việt Nam đang trong quá trình xin tham gia hệ cảnh báo sóng thần của tổ chức CTBTO.
Trong tai nạn nhà máy điện hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản năm 2011, số liệu hạt nhân phóng xạ của CTBTO được tổng hợp và báo cáo cho Bộ KHCN trong quá trình ứng phó quốc gia đối với ảnh hưởng phóng xạ từ Nhật Bản và đóng góp tích cực cho các bản tin hàng ngày của Bộ KHCN về tình hình cũng như dự báo khả năng phóng xạ ảnh hưởng đến lãnh thổ Việt Nam, tạo tâm lý tin tưởng trong dân chúng. CTBTO đánh giá cao việc Việt Nam sử dụng số liệu của CTBTO trong tai nạn hạt nhân Fukushima cho quá trình ứng phó quốc gia và đã cung cấp một hệ thiết bị cho Việt Nam đầu năm 2012 để tăng cường công tác khai thác số liệu.
Ngoài ra, số liệu quan trắc hạt nhân phóng xạ của CTBTO trong quá trình tai nạn hạt nhân Fukushima được các nhà khoa học Việt Nam sử dụng trong bài báo nghiên cứu khoa học như là những số liệu so sánh cho những số liệu quan trắc của Việt Nam trong tai nạn hạt nhân tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima năm 2013.
CÁC HẠN CHẾ TRONG TRIỂN KHAI THỰC HIỆN HIỆP ƯỚC
Thông qua những công việc liên quan đến xây dựng và nâng cao năng lực kỹ thuật quốc gia về CTBT cũng như khai thác và sử dụng dữ liệu của tổ chức CTBTO cho mục đích dân sự nêu trên, chúng ta khẳng định rằng lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật của Việt Nam hoàn toàn có đủ hiểu biết, kiến thức và năng lực cho mục đích kiểm chứng CTBT cũng như khai thác dữ liệu hạt nhân phóng xạ phục vụ cho việc ứng phó sự cố hạt nhân quốc gia khi có tai nạn hạt nhân xuyên biên giới và khai thác dữ liệu phục vụ cảnh báo sóng thần.
Tuy nhiên, qua thời gian triển khai các hoạt động kỹ thuật liên quan đến Hiệp ước CTBT, chúng tôi nhận thấy có một số hạn chế và tồn tại cần quan tâm:
- Liên quan đến xây dựng và cải thiện năng lực kỹ thuật: Việt Nam hiện có các viện, cơ quan nghiên cứu với nhiều cán bộ có chuyên môn liên quan đến Hiệp ước CTBT, có thiết bị hiện đại về địa chấn và hạt nhân phóng xạ, có bề dày nghiên cứu và triển khai ứng dụng các kỹ thuật này trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng dân sự. Tuy vậy mỗi viện, cơ quan có một chuyên môn cụ thể và lại thuộc các Bộ, ngành khác nhau, do vậy việc phối hợp và cộng tác để giải quyết một nhiệm vụ chung cần nhiều cán bộ có chuyên môn khác nhau, làm việc tại các Bộ, ngành, cơ quan khác nhau không hề dễ dàng, đôi khi rất khó khăn. Mặc dù các cán bộ từ các viện, cơ quan khoa học đã tích cực phối hợp với nhau để nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật liên quan Hiệp ước đã có kết quả chung ban đầu, nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được mong muốn bởi có nhiều bất cập và hạn chế trong việc hợp tác. Vì vậy, chúng tôi nhận thấy cần phải có một cách thức tổ chức hợp lý hơn để tạo điều kiện gắn kết các cán bộ có chuyên môn khác nhau từ các Bộ, ngành, cơ quan khác nhau cùng tham gia nghiên cứu giải quyết một vấn đề chung - triển khai Hiệp ước.
- Liên quan đến cơ chế kiểm chứng Hiệp ước, Thanh sát tại chỗ là một hoạt động nhạy cảm cần được tìm hiểu, nghiên cứu kỹ càng bởi nó sẽ diễn ra trên lãnh thổ của nước chịu thanh sát. Để nghiên cứu vấn đề Thanh sát tại chỗ chúng ta cần cả lực lượng hiểu biết về ngoại giao, về xuất nhập khẩu, về an ninh và cả về kỹ thuật, thiết bị sử dụng trong thanh sát để có thể phối hợp trong suốt quá trình diễn ra thanh sát nhằm hoàn thành nghĩa vụ quốc gia đối với Hiệp ước và đảm bảo an toàn, an ninh quốc gia tránh bị lợi dụng hoặc bị lộ bí mật quốc gia. Việc nghiên cứu này rất cần sự tham gia, hợp tác của nhiều Bộ, ngành, và một lần nữa lại đòi hỏi chúng ta cần cách thức tổ chức phối hợp hợp lý để cùng triển khai nhiệm vụ chung.
- Liên quan đến khai thác cơ sở dữ liệu quan trắc của CTBTO: CTBTO có một cơ sở dữ liệu khổng lồ từ hệ thống quan trắc quốc tế, ngoài mục tiêu phục vụ hoạt động công tác kiểm chứng Hiệp ước, nó còn được sử dụng cho mục đích dân sự và nghiên cứu khoa học. Đây cũng là một trong vấn đề cần được các cơ quan khoa học tận dụng triệt để nhằm tạo điều kiện thêm cho công tác nghiên cứu, ứng dụng. Tuy nhiên cần có phương thức thích hợp để phổ biến rộng rãi kho số liệu này đến nhiều cơ quan khoa học có khả năng sử dụng các số liệu khoa học để họ biết và tham gia khai thác tích cực và hiệu quả
MỘT SỐ NHẬN XÉT
Liên quan đến Hiệp ước CTBT, có thể khẳng định đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Việt Nam có kiến thức, kinh nghiệm về kỹ thuật hạt nhân và địa chấn, đã tổ chức các hoạt động khai thác dữ liệu của tổ chức CTBTO nhằm nâng cao năng lực kỹ thuật cho mục đích kiểm chứng Hiệp ước, cũng như thực hiện các hoạt động khai thác dữ liệu cho mục đích ứng dụng dân sự và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, như đã nêu trong phần trên, chúng ta chưa có một cơ chế phối hợp để tạo sự gắn kết hữu cơ giữa các cơ quan đơn vị khác nhau có chuyên môn liên quan trong các hoạt động kỹ thuật nhằm cùng nhau nghiên cứu, nâng cao hiểu biết, kiến thức phục vụ việc khai thác số liệu hiệu quả hơn nữa, chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm trong quá trình nâng cao năng lực kỹ thuật để phục vụ cho công việc kiểm chứng Hiệp ước.
Mặc dù chưa có một cơ chế phối hợp chính thức, các đơn vị cơ quan có chuyên môn phù hợp vẫn đang tích cực nghiên cứu các vấn đề khoa học kỹ thuật, nâng cao hiểu biết và trao đổi kinh nghiệm với nhau. Cụ thể, các đơn vị trong ngành năng lượng nguyên tử tập trung nghiên cứu các vấn đề về liên quan hệ thống quan trắc hạt nhân phóng xạ trong khí quyển, phổ kế gamma và phân tích phổ gamma, các vấn đề phông phóng xạ môi trường và vấn đề đóng góp vào phông môi trường từ các hoạt động ứng dụng năng lượng nguyên tử như sản xuất đồng vị phóng xạ, nhà máy điện hạt nhân…, nghiên cứu các mô hình phát tán phóng xạ liên quan đến xác định địa điểm rò rỉ phóng xạ,…. Các đơn vị liên quan kỹ thuật địa chấn tiếp tục nghiên cứu việc ứng dụng số liệu địa chấn của CTBTO nhằm bổ sung cho số liệu quan trắc địa chấn của Việt Nam và tham gia mạng cảnh báo sóng thần của CTBTO. Để đáp ứng năng lực kỹ thuật cho kiểm chứng Hiệp ước, cán bộ của chúng ta cần phải nỗ lực nhiều và cần được đào tạo, thực hành, và nghiên cứu nhiều hơn nữa một cách tập trung và có bài bản.
Nhằm khai thác hiệu quả hơn kho số liệu khoa học giá trị của CTBTO cho nghiên cứu khoa học và ứng dụng dân sự  và nâng cao năng lực quốc gia cho việc kiểm chứng Hiệp ước, trong thời gian tới chúng ta nên sớm tạo dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan, thậm chí có thể cả cơ chế phối hợp giữa các bộ ngành để nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan đến Hiệp ước CTBT như ngoại giao, an ninh quốc phòng ngoài những khía cạnh về năng lực kỹ thuật đang được thực hiện để chuẩn bị đầy đủ năng lực quốc gia về mọi khía cạnh đáp ứng được trách nhiệm quốc gia đối với Hiệp ước khi Hiệp ước có hiệu lực./.
NTH, P.ANTS, Cục ATBXHN
Tin bài khác
Online: 25
Số lượt truy cập: 6595028
Lên đầu trang
SSL