Tim kiem
  Trang nhất
  Giới thiệu
  Hoạt động của Cục
  Tin tức & Sự kiện
  Trong nước
  Nước ngoài
  Hồ sơ
  Sự cố Fukushima I
  Báo cáo ANSN
  Khoa học - Công nghệ
  Văn bản pháp luật
  Hướng dẫn cấp phép
  Thanh tra, cấp phép
  Thông tin & Đào tạo
  Hội nghị, Hội thảo
  Tập san PQHN
  Báo cáo quốc gia hàng năm
  Doanh nghiệp và Người dân
  Điểm tin hạt nhân
  Liên kết website
  Video
  RCA Việt Nam




































Thống kê truy cập
Thống kê truy cập: 6051924
Số người trực tuyến: 142
Hội nghị, Hội thảo » Trong nước
 
Luật năng lượng nguyên tử - Hành lang pháp lý cho các hoạt động trong lĩnh vực NLNT ở Việt Nam
(Tin đưa ngày: 10/12/2007)

Trong buổi gặp gỡ giữa Lãnh đạo và các cán bộ chủ chốt của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) với các thành viên Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KHCN&MT) của Quốc hội và các nhà khoa học là đại biểu Quốc hội diễn ra ngày 15.11.2007, GS Đặng Vũ Minh - Chủ nhiệm Uỷ ban cho biết: Ông đã nhận được nhiều ý kiến nhất trí và đánh giá cao nội dung của Dự án Luật Năng lượng nguyên tử (NLNT), đặc biệt một số ý kiến cho rằng: Dự thảo Luật đã được chuẩn bị chu đáo, công phu nhất trong số 5 Dự thảo Luật trình xin ý kiến Quốc hội lần này, cả về nội dung và hình thức và Báo cáo thẩm tra của Uỷ ban KHCN&MT của Quốc hội về Dự thảo Luật này được viết rất kỹ và trí tuệ. Vậy điều gì đã tạo nên thành công của một Dự án Luật với những nhận xét tốt đẹp như vậy?

Khởi đầu từ “thi đua xã hội chủ nghĩa”

Từ những năm 2002-2003, Viện NLNT Việt Nam đã được Bộ KH&CN giao thu thập tài liệu, tiến hành các nghiên cứu cần thiết để xây dựng Dự thảo Luật NLNT. Đến đầu năm 2006, Viện đã xây dựng được phiên bản thứ 7 (gọi là phiên bản 1.7).

Được mời tham dự một hội thảo do Viện tổ chức góp ý cho phiên bản 1.7, đại diện của Cục Kiểm soát và An toàn Bức xạ, Hạt nhân (KSATBXHN) đã đề xuất nhiều ý kiến góp ý cho bộ phận nghiên cứu biên soạn Dự thảo Luật của Viện NLNT Việt Nam, trong đó đặc biệt lưu ý tính lôgic của cấu trúc Dự thảo Luật, vai trò quan trọng của các chuyên gia và bộ phận “chấp bút” Dự thảo. Để thúc đẩy tiến độ và nâng cao chất lượng xây dựng Dự thảo Luật NLNT, tại một cuộc họp giao ban của Bộ KH&CN vào đầu năm 2006, Cục KSATBXHN đã đề nghị Lãnh đạo Bộ cho phép thực hiện “thi đua xã hội chủ nghĩa” trong việc xây dựng các phiên bản Dự thảo Luật NLNT.

Ngay sau đó, Cục KSATBXHN đã bắt tay vào tổ chức việc soạn thảo phiên bản riêng về Dự thảo Luật NLNT, tạo ra một sự thi đua lành mạnh, thúc đẩy mọi người cùng cố gắng để sớm có một Dự thảo Luật NLNT chung của Bộ KH&CN, xứng đáng với tầm vóc của một lĩnh vực KH&CN hiện đại.

Phát huy trí tuệ của các chuyên gia

Công việc của Cục KSATBXHN bắt đầu từ việc “mổ xẻ” các điểm được và chưa được của phiên bản 1.7 của Viện NLNT Việt Nam; nghiên cứu kỹ lưỡng các tài liệu có liên quan của Cơ quan NLNT quốc tế (IAEA), tập trung chú ý vào 3 tài liệu quan trọng: Sổ tay Luật hạt nhân, Các quy định mẫu của Luật hạt nhân, Tiêu chuẩn an toàn quốc tế cơ bản số 115; nghiên cứu kinh nghiệm 10 năm áp dụng Pháp lệnh AT&KSBX (1996) và các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực ATBX. Cục đã mời các chuyên gia đã từng trực tiếp tham gia soạn thảo Pháp lệnh như: TS Phạm Quốc Trinh, TS Trần Ứng, các chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về hạt nhân: GS Phạm Duy Hiển, GS Cao Chi, PGS Trần Thanh Minh, GS Trần Đức Thiệp… và các chuyên gia nước ngoài có nhiều kinh nghiệm về xây dựng văn bản pháp quy từ Úc, Mỹ… cùng phối hợp xây dựng cấu trúc Dự thảo Luật để vừa phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, vừa đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế.

Cục KSATBXHN cũng mời các chuyên gia pháp luật thuộc Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Vụ KHCN&MT của Quốc hội, Vụ Pháp chế của Bộ KH&CN cùng phối hợp rà soát từng chương, điều, phản biện từng câu, chữ, dần hình thành các phiên bản theo đúng cấu trúc dự kiến. Một đoàn công tác do PGS Đoàn Năng làm Trưởng đoàn đã sang trao đổi ý kiến, học hỏi kinh nghiệm của các chuyên gia của Tổ chức KH&CN hạt nhân Úc (ANSTO), Cơ quan Bảo vệ phóng xạ và An toàn hạt nhân Úc (ARPANSA) và Bộ Năng lượng Mỹ (DOE). Các phiên bản của Cục đều được dịch ngay sang tiếng Anh để trao đổi ý kiến với các chuyên gia Úc, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc. Nội dung Dự thảo Luật cũng nhờ đó mà ngày càng đầy đủ, rõ ràng hơn.

Cuộc chạy nước rút ngoạn mục

Từ tháng 3.2007, Bộ trưởng Bộ KH&CN bắt đầu trực tiếp kiểm tra các khâu nghiên cứu, chuẩn bị, chỉ đạo rà soát nội dung Dự thảo Luật. Phiên bản Dự thảo Luật của Bộ KH&CN được hình thành trên cơ sở lấy phiên bản của Cục KSATBXHN làm nòng cốt, chọn lọc thêm những “tinh hoa” từ phiên bản của Viện NLNT Việt Nam.

Ngày 2.4.2007, Ban Soạn thảo Dự án Luật NLNT được thành lập do Bộ trưởng trực tiếp làm Trưởng ban, Tổ biên tập cũng được thành lập do một đồng chí Thứ trưởng Bộ KH&CN (Thứ trưởng Lê Đình Tiến) làm Tổ trưởng. Cũng từ đây, Cục KSATBXHN đã thực sự trở thành đầu mối thường trực, giúp Lãnh đạo Bộ tổ chức các buổi làm việc của bộ phận thư ký, Tổ biên tập, các chuyên gia… Tổng cộng đã có gần 80 cuộc họp, làm việc về xây dựng Dự án Luật được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 9.2007… Có những buổi họp trao đổi rất kỹ lưỡng, lật qua lật lại một cách toàn diện chỉ một Điều trong Dự thảo Luật. Tất cả đều rất khẩn trương, phối hợp chặt chẽ, dốc toàn bộ tâm huyết cho kết quả chung cuối cùng của cả tập thể. Bản thân Trưởng ban Soạn thảo Luật NLNT cũng đã rất trăn trở với những điểm mấu chốt cần được tháo gỡ, như vấn đề về Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia; làm thế nào để Hội đồng này đóng vai trò quan trọng đối với dự án điện hạt nhân ở Việt Nam, nhưng không chồng chéo chức năng với Hội đồng nhà nước đối với các dự án trọng điểm quốc gia?

Có thể nói, 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 9.2007) là thời điểm quan trọng của cuộc chạy nước rút. Mỗi ngày Dự thảo Luật lại được hoàn thiện thêm. Một số nội dung được hoàn thành vào những ngày làm việc khẩn trương của tháng 9 đã mang lại sắc thái mới cho Dự thảo Luật, như quy định về Cơ quan ATBX, an toàn hạt nhân, Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia, Thanh sát hạt nhân… Lãnh đạo Cục KSATBXHN đã làm việc với chuyên gia Pháp tại Paris để làm sáng tỏ nội dung về cấp phép cho nhà máy điện hạt nhân, vấn đề bảo hiểm và đền bù thiệt hại hạt nhân, khả năng trích lợi nhuận từ hoạt động của nhà máy điện hạt nhân để đóng bảo hiểm, đào tạo và tạo điều kiện thu hút nhân lực có trình độ cao… Từng bước, Dự án Luật được hoàn thiện, bao quát hết các vấn đề thực tiễn của Việt Nam và các quy định mẫu của Luật hạt nhân của IAEA, được trình Chính phủ, trình Uỷ ban KHCN&MT của Quốc hội và báo cáo trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Ngày 7.11.2007, tại Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội Khoá 12, Bộ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Văn Phong thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ đã chính thức báo cáo Dự án Luật và  GS Đặng Vũ Minh, Chủ nhiệm Uỷ ban KHCN&MT của Quốc hội đã đọc Báo cáo thẩm tra đối với Dự án Luật.

Những người tham gia biên soạn Dự án Luật đã làm việc cật lực, huy động được nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, nên đã có được sản phẩm xứng đáng với lời khen tặng của các đại biểu Quốc hội. Việc tham gia tích cực, sâu sát ngay từ đầu của các cán bộ có trách nhiệm của Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Vụ KHCN&MT của Quốc hội đã làm cho Dự thảo Luật luôn được phản biện một cách toàn diện; cán bộ thẩm tra các cấp từ Chính phủ tới Quốc hội cũng nhờ đó mà có hiểu biết rất cặn kẽ, chi tiết, nên đã có Báo cáo thẩm tra rất “trí tuệ” như nhận xét của các đại biểu Quốc hội.

Những nét chính của Dự thảo Luật NLNT

Dự thảo Luật NLNT gồm 12 chư­ơng với 103 điều, tập trung vào một số vấn đề chính sau đây:

1. Mở rộng hơn so với Luật mẫu NLNT do IAEA hướng dẫn, Dự thảo Luật NLNT của Việt Nam đề cập tới cả 2 nội dung: i) Phát triển, ứng dụng NLNT và ii) Bảo đảm an toàn, an ninh trong các hoạt động phát triển, ứng dụng NLNT. Các hoạt động trong lĩnh vực NLNT phải phục vụ cho mục đích hoà bình; phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm an toàn cho sức khoẻ, tính mạng con ngư­ời, môi trư­ờng và an ninh xã hội.

2. Dự thảo Luật quy định về lập quy hoạch và kế hoạch ứng dụng NLNT trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đề ra các biện pháp đẩy mạnh ứng dụng NLNT như­ phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, công nghệ hạt nhân, đầu tư­ xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, sản xuất một số thiết bị chuyên dùng... phục vụ cho phát triển ứng dụng bức xạ, phát triển điện hạt nhân. Đồng thời, quy định các loại hình dịch vụ, thủ tục đăng ký hoạt động, chứng chỉ hành nghề, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ hỗ trợ trong lĩnh vực NLNT.

3. Nội dung liên quan đến bảo đảm an toàn, an ninh trong các hoạt động ứng dụng NLNT được đề cập xuyên suốt trong Dự thảo Luật. Cụ thể:  

- Quy định về khai báo; thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục, thời hạn cấp giấy phép; sửa đổi, bổ sung, gia hạn, cấp lại, thu hồi giấy phép; phí, lệ phí cấp giấy phép. Theo tinh thần đơn giản hoá thủ tục hành chính, các quy định cụ thể về khai báo và xin cấp phép đ­ược l­ược giản tối đa, như­ng vẫn phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của nguồn phóng xạ và từng loại hình công việc bức xạ.

- Quy định các biện pháp bảo đảm an toàn và an ninh chung mà tất cả các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực NLNT phải tuân thủ như­ đánh giá an toàn; triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn và bảo đảm an ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân; thực hiện kiểm xạ môi trường.

- Quy định trách nhiệm của ngư­ời đứng đầu tổ chức, cá nhân đ­ược cấp phép tiến hành công việc bức xạ, ng­ười phụ trách an toàn, nhân viên bức xạ trong việc bảo đảm an toàn và an ninh.

- Quy định về quản lý, xử lý chất thải phóng xạ, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng; phát hiện và xử lý nguồn phóng xạ bị thất lạc, bị chiếm đoạt, bị bỏ rơi hoặc bị chuyển giao bất hợp pháp...; quản lý và thanh lý nguồn phóng xạ hết hạn sử dụng; biện pháp hạn chế tác hại của chiếu xạ tự nhiên.

4. Dự thảo Luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan ATBX, an toàn hạt nhân và Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia. Việc cấp giấy phép vận hành nhà máy điện hạt nhân phải dựa trên cơ sở kết quả thẩm định của cơ quan ATBX, an toàn hạt nhân và đánh giá của Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia đối với kết quả thẩm định này. 

5. Dự thảo Luật quy định những yêu cầu ngặt nghèo đối với nhà máy điện hạt nhân, từ quyết định chủ trương, dự án đầu tư, địa điểm xây dựng, thi công, vận hành, giám sát an toàn, cho đến trách nhiệm bảo vệ, quan trắc phóng xạ môi trường, kiểm tra đánh giá an toàn, bảo đảm nguồn nhân lực và công tác thông tin đại chúng về nhà máy điện hạt nhân. Để bảo đảm an toàn tối đa cho nhà máy điện hạt nhân (cơ sở hạt nhân đặc biệt), trong xây dựng, vận hành nhà máy điện hạt nhân, ngoài việc tuân thủ các quy định hiện hành về xây dựng, đầu tư còn phải tuân thủ quy trình nghiêm ngặt, chịu sự kiểm soát và giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

6. Dự thảo Luật quy định trách nhiệm bồi thường, mức bồi thường và thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại; bảo hiểm nghề nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và quỹ hỗ trợ người bị thiệt hại. Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường đối với thiệt hại về tính mạng và sức khoẻ con người kéo dài tới 30 năm kể từ ngày xảy ra sự cố hạt nhân.

7. Đối với vấn đề nhạy cảm - thanh sát hạt nhân, trong Dự thảo Luật quy định rõ cam kết của Việt Nam trong việc không phổ biến vũ khí hạt nhân; đồng thời cũng quy định trách nhiệm của thanh sát viên quốc tế phải tôn trọng luật pháp, không được phép lạm dụng quyền thanh sát hạt nhân gây ảnh hưởng tới chủ quyền  của Việt Nam.

Những việc cần làm tiếp 

Có thể thấy, Dự án Luật NLNT đã và đang được thực hiện như một cuộc chạy tiếp sức đầy ấn tượng. Khởi đầu bằng sự phân tích khoa học những mặt được và chưa được của phiên bản Dự thảo 1.7 của Viện NLNT Việt Nam, nghiên cứu lĩnh hội một cách có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng Luật NLNT của nước ngoài, khuyến cáo của IAEA; tiếp theo là đánh giá việc thực hiện Pháp lệnh AT&KSBX nhằm rút ra những bài học quản lý; tiếp đến là sự huy động và kết hợp nhuần nhuyễn tri thức của các nhà khoa học chuyên ngành hạt nhân với kỹ năng làm luật của các chuyên gia luật pháp, hỗ trợ của các đồng nghiệp nước ngoài; sau đó là giai đoạn chạy nước rút đầy tâm huyết và quyết liệt để hoàn thành bản Dự thảo Luật với nội dung về cơ bản đã đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Trên cơ sở 18 ý kiến của các đại biểu Quốc hội góp ý cho Dự án Luật tại cuộc họp toàn thể của Quốc hội chiều ngày 14.11.2007, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sẽ chỉ đạo các bộ phận thẩm tra và Ban Soạn thảo Dự án Luật tiếp thu, chỉnh sửa. Ngoài ra, dự kiến sẽ có 3 Nghị định dưới Luật, bao gồm: Nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NLNT, Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực NLNT và Nghị định về nhà máy điện hạt nhân.

Trước mắt, quãng đường về đích vẫn còn dài. Việc chỉnh sửa, hoàn thiện Dự thảo Luật NLNT với chất lượng cao nhất, đáp ứng được các yêu cầu để trình Quốc hội thông qua vào tháng 5.2008, đồng thời hoàn thành các Nghị định dưới Luật trình Chính phủ xem xét ban hành vào thời điểm Luật có hiệu lực thi hành là một trách nhiệm hết sức nặng nề, đòi hỏi sự quyết tâm cao và cách tổ chức làm việc rất khoa học.

Việc ban hành Luật NLNT và các Nghị định dưới Luật sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động trong lĩnh vực NLNT, đặc biệt là cho việc triển khai dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam. Đó chính là trách nhiệm của Bộ KH&CN và cũng là ước mơ, khát vọng của những người đã 'chót' gắn cuộc đời mình với một lĩnh vực KH&CN đáng trân trọng - ứng dụng NLNT vì mục đích hoà bình.

TS Ngô Đặng Nhân
Cục trưởng Cục KSATBXHN
Thành viên Ban Soạn thảo, Tổ phó Tổ biên tập Luật NLNT
(Bài viết đăng trên Tạp chí Hoạt động khoa học tháng 12/2007)

 
 
Trở về Bản In Gửi tới

  

Phải quy định cụ thể trách nhiệm quản lý an toàn về năng lượng hạt nhân (09/11/2007)

  

Sản xuất đồng vị phóng xạ và dược chất chữa bệnh tại Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt (04/11/2007)

  

Dự án Luật năng lượng nguyên tử và công tác giám sát các công trình quan trọng quốc gia năm 2007 (25/10/2007)

  

Từ cầu Cần Thơ đến Điện hạt nhân (20/10/2007)

  

Cân đối nguồn cung cấp năng lượng: Tìm cơ chế phát triển năng lượng hạt nhân (15/10/2007)

  

Khai giảng khoá học về công nghệ nhà máy điện hạt nhân do Toshiba tài trợ (14/10/2007)

  

Khai giảng khoá huấn luyện chuyên ngành năng lượng nguyên tử năm 2007 (28/09/2007)

  

Thiết bị phân tích nhanh thành phần canxi và sắt trong sản xuất xi măng (24/09/2007)

  

Điện nguyên tử - “thời cơ vàng” cho Việt Nam (23/09/2007)

  

Việt Nam tìm hiểu về hệ thống thanh sát hạt nhân (28/08/2007)
Về đầu trang | Các tin tiếp theo >>

Cục An toàn bức xạ và Hạt nhân.
Địa chỉ: Tầng 14, 113 Trần Duy Hưng - Phường Trung Hòa - Quận Cầu Giấy– Hà Nội.
Tel: (84-4)39428636 – Fax: (84-4)38.220.298
Email: Official.mail@varans.vn

Ghi rõ nguồn "Cục ATBXHN",khi phát hành lại thông tin từ Website này. 
Giấy phép số 152/GP-BC ngày 29/8/2005 của Bộ Vǎn hoá - Thông tin về thiết lập trang tin điện tử trên mạng Internet
© 2005 Bản quyền thuộc về Cục An toàn bức xạ và hạt nhân